top of page

SEARCH RESULTS

Search this site

87 results found with an empty search

  • THE PAINTED VEIL (Bức Bình Phong )

    Có một loại địa ngục cụ thể dành riêng cho những phụ nữ kết hôn với đàn ông trong khi cô ấy vẫn còn một tình yêu sâu đậm với người yêu cũ.  Khi bạn đọc The Painted Veil, cuốn tiểu thuyết mô tả không gian giữa sự phản bội và sự chuộc lỗi, giữa những gì đẹp đẽ mà tình yêu mang đến và những điều tồi tệ đã xảy ra sau tất cả những ê chề do phản bội với niềm tin của người chồng dành cho mình. The Painted Veil cuả W.Somerset Maugham bắt đầu với một trong những màn mở đầu tàn nhẫn nhất mà tôi đọc trong văn học, trong tiểu thuyết: người phụ nữ bị chgi1nh người chồng bắt gặp đang ngoại tình với người yêu cũ của cô ấy: người chồng với gương mặt lạnh nhạt, lúng túng đứng trước cửa. Không có cuộc đối đầu to lớn nào xảy ra. Chỉ là một sức nặng vô hình đè lên cô ấy. Kitty Fane xinh đẹp, nông cạn, và sợ hãi. Cô kết hôn vội vàng với Walter - một nhà vi khuẩn học, một người giàu trí tuệ, ít nói, làm việc thường xuyên với những vết thương sâu của người bệnh. Kitty Fane tin rằng bản thân mình thông minh trong việc tìm kiếm niềm vui ở một nơi khác. Nhưng sự trả thù của Walter không phải là sự giận dữ mà là một sự tàn ác thầm lặng. Anh ta buộc cô ấy phải đi cùng anh ta đến một ngôi làng ở Trung Quốc xa xôi, nơi bị tàn phá bởi dịch tả. Hoàn toàn không có hình phạt. Anh ấy làm công việc của mình một cách tận tâm. Cô ấy ở ngay đó xem anh ta làm việc. Tại đây, trong nơichứa đựng sự mục rữa và im lặng này, có điều gì đó kỳ lạ xảy ra. Không có sự tha thứ, Cô ấy mang một hình dáng trống rỗng của sự phù phiếm của riêng mình. Ai trong chúng ta khi nghĩ về tình yêu cũng tìm thấy niềm vui pha lẫn sự phấn khích. Nhưng với cô ấy, khi đối mặt với tai họa và cái chết, khi tất cả những gì khiến cô mong muốn bị tước đi, cô thấy mình vừa bị khinh thường vừa như được tái sinh. Một câu chuyện về một người phụ nữ buộc phải ngồi trong phòng thí nghiệm hít thở khói của các chất hóa học được đốt cháy trong các thí nghiệm, hai lá phổi cô dần thay đổi tệ hại. Maugham không thương xót cô. Anh ta không đưa đồ bảo hộ cho Kitty. Anh ta để cô ấy ngã xuống, mặt kệ cô ấy - hết lần này đến lần khác - khiến người đọc căm ghét anh ta. Sự thông minh của anh ấy giấu một vết thương thật sâu, sự dịu dàng của anh ấy đã cứng thành băng đá. Người đọc hiểu rằng: ân sủng của anh ta dành cho cô không phải là một món quà mà là sức lao động cùng đau đớn và chỉ có cô mới biết tại sao. Trong sự ảm đạm của cuộc hôn nhân này, cuốn tiểu thuyết trở thành một điều gì đó vĩ đại hơn một câu chuyện ngoại tình. Nó làm thức tỉnh người đọc. Trận dịch tả nhiều ảm đạm, cái chết hiện hữu ở khắp nơi. Cuối cùng, khi Walter chết (phải—anh ấy chết), anh ta không để cô ấy được an toàn. Anh ta để lại cô ấy với mầm bệnh dịch tả. Và cô ấy, mang nó trong mình nhưng không phải xấu hổ, không phải để chuộc lỗi bản thân, mà là để làm một điều gì đó đúng đắn hơn, ý nghĩa hơn. Tôi đã đọc xong The Painted Veil với trái tim bị thắt chặt trong lồng ngực- không phải từ nỗi buồn, mà là từ sự nhận th ức. Bởi vì con người dễ gây lỗi lầm, nhất là về tình cảm. Bởi con người không dễ để tha thứ, nhất là về tình cảm. Cuốn sách này không làm hài lòng người đọc, không an ủi người đọc, mà nó phơi bày một sự thật: bạn phải trả giá cho sự phản bội trong tình yêu. Nó mang đến một bức chân dung của sự tàn nhẫn. Nó nói rằng: Đúng, bạn đã thất bại. Nhưng thất bại có thể là một cánh cổng. Và đôi khi, người mà chúng ta trở thành sau sự đổ vỡ lại là phiên bản chân thật nhất mà chúng ta từng gặp. Hãy đọc The Painted Veil. không phải vì sự ngưỡng mộ với hai nhân vật chính, mà đọc để được nhắc nhở! (Phiên bản tiếng Việt đọc ở đây: https://isach.info/story.phpstory=buc_binh_phong__w_somerset_maugham&chapter=0000 )

  • RỪNG VÀ CON NGƯỜI

    Rừng chắc chắn là ngôi nhà đầu tiên của loài người. Các sản phẩm "ăn được" của nó mang lại giá trị quý giá cho đời sống con người. Động vật hoang dã giúp con người phát triển nghề săn bắn. Việc săn bắn ban đầu cung cấp phương tiện sinh kế, sau đó là niềm vui và sự phấn khích cho những người đàn ông sức khỏe. Trong những khoảng trống của rừng, những đồng cỏ tồn tại ở đó. Nó đã mang lại giá trị đối với người chăn nuôi. Những nơi này- gọi là các vùng thung lũng- valley- phát triển thành các cộng đồng định cư. Thời gian trôi qua, điều kiện sống các cộng đồng văn minh hơn, sản phẩm gỗ trở thành đóng góp chính cho nền văn minh đó. Cuối cùng, chính sự phát triển của con người đã làm thay đổi thổ nhưỡng, khí hậu và nguồn nước ngầm. Mặc dù không có tài liệu lịch sử nào được ghi chép lại, nhưng không nghi ngờ rằng trong những giai đoạn đầu tiên, con người đã đánh giá cao rừng cây trong quá trình phát triển sớm nhất của mình. Khi nông nghiệp phát triển, nhu cầu về đất canh tác làm lu mờ tính hữu ích của rừng theo mọi hướng. Rừng bị chặt phá bừa bãi. Khi dân số vẫn còn ít, việc sử dụng lãng phí nguồn dự trữ từ thiên nhiên sẽ trở thành thói quen. Tương ứng với diện tich rừng thay đổi: từ những ngọn đồi và sườn núi rậm rạp trong thời đại của dân du mục và thợ săn đến các "vùng đất riêng" hoặc các mảnh ruộng và đồng cỏ được bao bọc bởi rừng của những người nông dân đầu tiên; sau đó là sự mở rộng của các thung lũng và vùng đất thấp. Với sự gia tăng dân số và nền văn minh ở các thung lũng và đồng bằng, diện tích rừng giảm và sự suy giảm của cải rừng đã xảy ra. Sau này chinh phủ ở các quốc gia phải khó khăn lắm mời thiết lập lại theo một trât tự và quy củ bằng các điều khoản pháp luật nhgiêm ngặt. Trong các tác phẩm của các nhà thơ và nhà sử học xưa kia có kể về lịch sử của rừng, cuộc sống và cách thức khai thác hay giữ gìn điều quý giá từ rừng. Nhưng dường như nó chỉ thoáng qua, không khắc ghi vào trong tâm trí của bất kỳ ai trong thời kỳ hiện đại. Vùng cao nguyên Lâm viên là nơi có nguồn gỗ tuyết tùng dồi dào cũng đã được khai thác tự do để làm gỗ. Người du mục không biết đất đai là tài sản. Khi họ trở thành nông dân định cư, đất cày, vườn cà-phê, vườn cây ăn quả được công nhận là tài sản tư nhân. Nhưng tất cả những thứ còn lại vẫn là tài sản chung hoặc không thuộc sở hữu riêng của ai. Những vụ cháy rừng do bất cẩn gần như luôn bám theo những người khai thác gỗ và phá hủy phần lớn diện tích rừng. "Những tai họa được dự đoán có thể sẽ gia tăng với tốc độ nhanh gấp mười lần so với tốc độ mà các biện pháp khôi phục hoặc cải thiện rừng được áp dụng. ” (1865, Mục sư Frederic Starr, Hoa kỳ) Và điều chắc chắn không cần bàn cãi: " Trái đất bị biến đổi bởi hành động của con người"

  • TUỔI TRẺ

    Một người bạn từng nói với tôi rằng: thanh xuân không phải là một mùa của cuộc đời mà là một cơn sốt, Một người trẻ với nguồn năng lượng tràn đầy không đứng yên để được yêu thương. Trong họ bao gồm: một phần thông minh, một phần bối rối, một phần khát khao, một ý nghĩa ngoài tầm với. Không phải họ đã có đủ sự khôn ngoan được mài dũa kỹ để thúc đẩy tiến lên, mà là những góc cạnh của một người đủ trẻ để mơ mộng và đủ liều lĩnh để dấn thân. Một người trẻ không được sinh ra và học hành để sống yên tĩnh, anh ta chất chứa sự kiêu ngạo, khát khao theo đuổi một điều gì đó thật sự to lớn và nhiều khi vẫn chưa học cách kiểm duyệt bản thân. Lúc hai mươi tuổi, với những lời khuyên bên ngoài lấp lánh, với sự táo bạo trẻ trung, anh ta thích thử nghiệm từng nhạc cụ mà anh ta có thể tìm thấy, thử xem linh hồn của anh ta có thể tạo ra âm thanh gì. Và cả sự khát khao chiến thắng, tìm kiếm sự vinh quang. Bằng những cuộc trò chuyện lung linh với bạn bè hay các tiền bối thành đạt, có những khoảnh khắc khiến anh ta cảm thấy hồi hộp về khả năng của chính mình. Tuy nhiên xã hội vẫn đòi hỏi anh ta một sự rạng rỡ trong cuộc sống hàng ngày. Khi những thất vọng bắt đầu chào đón anh ấy, những lãng mạn mang lại hư hỏng, những lý tưởng sụp đổ, sự lạnh nhạt của một xã hội hứa hẹn nhiều nhưng cũng giữ lại của anh ta thật nhiều- theo đúng ý nghĩa đó- tuổi trẻ của anh ta sẽ được thức tỉnh, đôi khi sự thô lỗ xuất hiện và định hình bản tính của anh ấy.

  • Ở vùng đất xanh tươi và dễ chịu

    Rất nhiều nơi đang trở thành vùng đất của những thành phố lớn. Làng mạc thì tĩnh tại hoặc đang dần biến mất; còn thành phố thì phát triển chóng mặt. Cuộc di cư vẫn đang diễn ra từ các vùng nông nghiệp lên thành phố. Tôi luôn muốn hỏi: "Có thể làm gì để khiến các vùng nông thôn trở nên hấp dẫn hơn đối với mọi người: thu nhập, hoặc ít nhất là mức sống vật chất, ở nông thôn cao hơn ở thành thị; để đảm bảo ở nông thôn những cơ hội giao tiếp xã hội bình đẳng, và để triển vọng thăng tiến cho người bình thường ngang bằng, nếu không muốn nói là vượt trội hơn, so với những người ở các thành phố lớn của chúng ta?" Một thanh niên bước vào đời khó có thể có bất kỳ lựa chọn hay phương án thay thế nào khác. Họ có lẽ phải kìm nén tình yêu đối với làng quê, một ngôi làng nghèo nàn - hoặc phải từ bỏ gần như hoàn toàn tất cả những thú vui tinh tế và trong sáng của vùng nông thôn để chạy đua lên thành phố lớn tìm việc làm. So với thỏi nam châm nông thôn, thỏi nam châm thành thị mang lại những lợi thế về mức lương cao, cơ hội việc làm, triển vọng thăng tiến. Các cơ hội xã hội và những nơi giải trí của nó rất hấp dẫn. Nhưng đổi lại: họ có số giờ làm việc quá mức, không khí bị ô nhiễm, đôi khi phải ở trong những căn phòng thuê tồi tàn.. Ở nông thôn có những cảnh đẹp, những công viên tĩnh lặng, những cánh rừng thơm ngát hương hoa, tiếng nước chảy róc rách. Ánh nắng rực rỡ và không khí trong lành có thể làm vui lòng trái tim của bao con người sống nội tâm. Nhưng cả nam châm thành thị lẫn nam châm nông thôn đều không đại diện cho toàn bộ mục đích của thiên nhiên ban tặng cho con người. Xã hội loài người và vẻ đẹp của thiên nhiên được tạo ra để cùng nhau tận hưởng. Hai nam châm này phải được hòa làm một. Và ...tôi vẫn chỉ là một phó thường dân !

  • CON NGƯỜI VÀ TÔN GIÁO

    “Human decency is not derived from religion. It precedes it." -Christopher Hitchen Sự tử tế của con người không phải bắt nguồn từ tôn giáo. Đạo đức đã tồn tại từ rất lâu trước khi tôn giáo xuất hiện . Sự liên kết xã hội bẩm sinh của con người là cội nguồn cho lòng tốt và sự tử tế, hiểu nhau và chia sẻ cảm xúc với người khác. Các quy tắc đạo đức từ đó được hình thành trong mỗi cộng đồng con người mà không cần đến một hệ thống tôn giáo cụ thể.  Con người vốn dĩ mang bản chất xã hội. Một xã hội mà người ta không tôn trọng lẫn nhau thì không thể tồn tại. Sự tử tế của con người là thiết yếu cho xã hội. “Tôn   giáo”   bắt   nguồn   từ   thuật   ngữ   “ religion ”,   và“ religion ”   lại   xuất   phát   từ thuật   ngữ   “ legere ”   ( Latinh )   có   nghĩa   là   thu   lượm   thêm   sức   mạnh   siêu   nhiên. Ngay   từ   thời   cổ   đại,   các   nhà   duy   vật   đã   nghiên   cứu   đến   ảnh   hưởng   của   yếu   tố   tâm   lý (tâm   trạng,   xúc   cảm)   đến   sự   ra   đời   của   tôn   giáo.   Họ   đã   đưa   ra   luận   điểm "Sự   sợ   hãi sinh ra thần thánh” Tôn giáo xuất phát từ sự bất lực của con người trong cuộc sống, bắt buộc họ phải tin vào một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó để thỏa mãn những giá trị về tinh thần. Tôn giáo cũng có sự ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Tôn giáo, tất nhiên, là một phần của nền văn minh, và đã hỗ trợ những khía cạnh tự nhiên này của bản chất con người.

  • MIỀN KÝ ỨC XƯA

    Bạn đã từng ngửi mùi lúa chín, mùi rơm rạ hay ngắm ngjia1 những hàng lúa chín vừa được gặt xong thả thành từng khóm ngay ngắn vào một buổi sáng sớm trong vụ mùa gặt ở làng quê chưa? Những khoảnh ruộng nhỏ ở miền nông thôn luôn biến đổi màu sắc và có nhiều vẻ tươi đẹp khác nhau. Tổ tiên ông bà chúng ta dựa vào sự siêng năng, ý chí mà dần dà đã tạo ra ngành lúa nước "tráng lệ" ngày hôm nay. Họ làm việc cả ngày trên đồng ruộng, cày cấy thuần phát, dựa vào sức mình, con trâu, cái cày, cái bừa, đôi quang gánh...mà giữ gìn bao nhiêu vùng ruộng đất từ vuông vức đến quanh co, từ vùng trũng đến đồi cao triền dốc.. Thế giới thuần khiết bên ngoài cánh cửa là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên tặng cho họ như để bù đáp lại nỗi vất vả mà họ phải chịu đựng. Người sinh ra và lớn lên từ nông thôn, nội tâm dường như có phần chân chất, kiên nhẫn. Đi đến đâu, sống cuộc sống thế nào họ cũng khó quên đất bùn với phong cảnh ruộng vườn. Cuộc sống đó không mang lại giàu sang sung túc, đủ đầy nhưng nuôi dưỡng được một tâm tình ngọt ngào . Một người đi xa về, từ đầu làng nhìn thấy khói bếp vấn vương trên mái tranh,, mái ngói của mấy căn nhà trong xóm cũ mới biết rằng mình đang ở giữa nhân thế bình phàm. Vào mùa xuân, dọc 2 bên những con đường làng luôn nhiều hoa rực rỡ sắc màu. Có nhiều bông bừng nở trên những cành khẳng khiu: hoa ngũ sắc, dâm bụt, me đất...Một làng quê "phồn thịnh, yên bình, tao nhã" và cũng "lạnh lẽo" nữa. Có những mùa xuân mưa dầm dề hết mấy ngày Tết, nhìn từ xa nơi đây tựa như trời đất nối liền làm một. Ngọn gió bấc rét buốt thổi mạnh qua từng con đường làng. Trong căn bếp nhỏ, bếp lò được nhóm lên rực lửa với nồi khoai lang luộc- món ăn thơm ngọt nhất của dân quê trong thời kỳ khó khăn- cả nhà quây quần quanh bếp lò ấm áp, giản đơn, tinh khiết.

  • NGƯỜI NÔNG DÂN

    Những người nông dân khi kết thúc một vụ mùa thường có nhiều thời gian nhàn rỗi. Với bản tính hay lam hay làm luôn tay luôn chân, họ sẽ kiếm tìm những việc mới. Cũng có thể điều này mang lại cho họ một ít tiền bổ sung vào chi phí cho gia đình. Đánh bắt, câu thêm vài con cá ngoài ao hồ, sông suối, đan lát giỏ, rổ, thúng,.. rồi mang ra chợ vào buổi bình minh hôm sau. Có nhiều gia đình, chính cái nghề đan sọt tre, ghế tre, giỏ tre... đã mang lại kế sinh nhai chính. Vào những ngày cuối xuân đầu hè, tháng tư âm lịch về, người đàn ông trong gia đình đi tìm mua tre, trúc xanh và mang vệ. Nếu nơi mua xa nhà, họ kết mấy cây tre trúc lại thành bè rồi nhờ vào dòng nước sông đang chảy xuôi đưa về. Những cây tre sau đó được cưa thành khúc với chiều dài được tính toán trước. Người ta dùng một con dao mỏng chuyên dụng (quê tôi gọi là cái rựa) để chẻ tre thành từng nan, rồi lại tỉ mỉ đan lại thành cái giỏ, cái rổ, cái thúng, cái sàng...sau nhiều công đoạn khác nhau. Tất cả phải dùng nhiều lực của bàn và ngón tay nên đôi bàn tay trông thô kệch. Tay nghề của họ thì vô cùng tinh xảo.. Họ phải có một bản tính tỉ mỉ, kiên trì để sản phẩm làm ra thật đẹp, thật chắc. Người xưa truyền nhau: một người thợ làm nghề đan lát lại hiếm khi đan trọn vẹn cuộc đời của chính mình, cuộc đời họ thường vất vả, không xuôi chèo mát mái, có người sống trong cô đơn vào những ngày tháng cuối đời. Tại sao thì không có câu trả lòi. Nghe có vẻ duy tâm. . Đời người là vậy. ngành nghề nuôi nấng họ và gia đình, rồi nó thành cái nghiệp gắn chặt với họ. Đến cuối cùng, dù hưng hay thịnh, chắc hẳn có những buổi chiều tà, họ sẽ ngồi ngắm hoàng hôn dần bao trùm cả không gian quanh họ. Trên chõng tre trước sân, họ ngồi tĩnh lặng lắng nghe âm thanh của ruộng đồng và không còn âu lo điều gì nữa.

  • HOA và HOA!

    Hoa là món quà, là ngôn ngữ của tình bạn và tình yêu. Trong mỗi dịp, buồn đau hay hân hoan, dịu dàng hay nồng nhiệt, hoa đều có ngôn ngữ để diễn tả. Gu thẩm mỹ tinh tế đối với niềm đam mê với hoa biểu hiện ở bất cứ tầng lớp giai cấp nào. Với những người thu nhập thấp, họ yêu hoa theo một phong cách riêng đủ để làm thỏa mãn một thú vui mà không hề đắt đỏ hay xa xỉ. Chỉ cần một cọ đất nhỏ, một chiếc giỏ cũ, một chiếc bình đất sét thô sơ nhất cũng có thể được tô điểm bởi những bông hoa rực rỡ, hoặc những kiểu lá xanh đủ để làm mê hoặc những con mắt thẩm mỹ kỳ cựu nhất. Giọng hót líu lo của chim chóc là âm nhạc của người nghèo, hoa lá là thơ ca của họ. Hoa có thể làm dịu và thanh lọc trái tim một bản chất thô lỗ và tầm thường, Hoa làm bừng sáng một khuôn mặt ngây thơ và hạnh phúc của những đứa trẻ Những vì sao, những đám mây là thơ ca của bầu trời- những bông hoa là thơ ca của mặt đất. Hoa là loài đẹp nhất đối với mắt và gần gũi nhất với trái tim. Hoa là bài thơ ngoại cảnh ngọt ngào nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Hoa có sức hấp dẫn, có ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với mọi trình độ tâm trí. Hoa không chỉ chạm đến trái tim; mà còn nâng cao tâm hồn con người. Một bông hoa không chỉ là hoa, một ngàn sự thánh thiện gửi vào từng cánh hoa!

  • ĐI VÀ CẢM NHẬN

    Sườn núi phía đông với tất cả sắc thái kỳ diệu nổi bật bên cạnh mặt biển trong xanh như màu ngọc bích. Những đỉnh núi nhấp nhô được chiếu rọi bởi ánh vàng rực rỡ của mặt trời buổi sáng đầu thu. Tất cảvẽ thành một bức tranh tuyệt đẹp đến nỗi bao nhiêu lữ khách ngang qua cũng muốn dừng lại để thưởng ngoạn. Bạn ngồi trên mỏm đá nhỏ nghỉ ngơi, mắt lơ đãng trong không gian rộng lớn trước mặt, hít thở làn gió mát rượi thơm ngát mùi hoa dại, mặn mặn vì của nước biển, bạn sẽ chẳng còn bận tâm nhiều đến những được mất ngoài kia.   Về phía đông, dưới chân núi, một làng chài trải dài thoai thoải cùng những sườn dốc phủ đầy cỏ, hoa và cây dương, Có một lối đi dẫn xuống vùng đất bằng phẳng bên dưới là nhà của người dân sống dựa vào sự hào phóng của biển cả. Làng chài nhìn ra một vùng biển được bao chặn bởi những ngọn núi thấp. Đây chính là Vịnh Vũng rô. Xa hơn về phía sườn núi là những tảng đá và cây bụi lởm chởm. Ngay phía trên những ngọn đồi nhấp nhô, nơi con đường 2 làn xe ngắn dẫn vào làng chài, là vách đá khá gồ ghề. Dưới chân vách đá là một lùm cây dương non, từ đó một dòng suối chảy róc rách. Vịnh nhỏ, điểm xuyết hoa lá, thuyền đánh cá, các làng bè của dân chài lưới, và rải rác, theo cách tự nhiên đầy ngẫu hứng của thiên nhiên, những lùm cây và bụi rậm. Một vách đá lớn tạo thành một phần của khung cảnh phía sau. . Nhưng điều khiến ai cũng chú ý là căn nhà gỗ nằm ngay đầu dường dẫn vào làng chài, hướng về hía biển. Một quán cà-phê nhỏ phong cách! Căn nhà gỗ - quán cà-phê được xây dựng khá thô sơ . vài chiếc bàn và ghế giản đơn. Không khí trong lành dễ chịu khi những làn gió bắt đầu từ biển cả thổi vào hoặc tràn từ hẻm núi xuống.Một niềm vui được ban tặng bởi thiên nhiên khi được hít thở thật sâu làn khí của núi, biển. Nó ngọt ngào với hương thơm hòa quyện của cây cỏ, hoa, dòng suối, muối biển ...Tất cả dường như trong trẻo và tươi mát hơn bao giờ hết. Thiên nhiên vẫn còn ngủ yên, bạn có thể nghe thấy tiếng thì thầm của cây cối và tiếng hát của sóng biển. vỗ vào mạn thuyền đánh cá đang neo đậu trong vùng biển kín này. Ở đâu đó, tiếng "chíp-chíp" buồn ngủ của một con chim nhỏ hót líu lo từ những rặng cây ven sườn núi, sau đó một con gà mái già nhảy lên không trung với tiếng cục tác sợ hãi trong bếp nhà bà chủ quán cà-phê. Một lát sau, nhiều âm thanh làm rung chuyển sự tĩnh lặng bằng những tiếng động của chúng: một thuyền máy chạy từ ngoài khơi vào... Một ngày như mọi ngày. Cuộc sống thật vui tươi, tràn đầy hạnh phúc. Đôi mắt, trái tim bạn mở ra trước vẻ huy hoàng của thế giới kỳ diệu; bạn sẽ tìm thấy “chìa khóa mở ra” cho một thế giới khác - thế giới lý tưởng ẩn giấu sau những trang sách ở trường học!!!!!

  • Bản năng môi trường của con người: LANG THANG VÀ SƯU TẦM

    Tổ tiên loài người hiện đại chúng ta có cuộc sống tự do, phóng khoáng, di chuyển trong rừng, từ nơi này qua nơi khác để tồn tại một cách tốt nhất. Dấu ấn đó có di truyền và mờ nhạt dần. Con người văn minh ngày nay đã vượt qua khuynh hướng thích lang thang. Trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên, khuynh hướng ban đầu này, ở một mức độ nào đó, nên được thỏa mãn theo những cách hợp lý nhất để sự phát triển trí tuệ đạt được mức tối đa. Trong giảng dạy, có thể lên kế hoạch cho các chuyến tham quan và dã ngoại cho cả việc dạy học và vui chơi theo những cách hợp pháp,phù hợp với lứa tuổi trẻ con. Giáo dục có bao gồm việc học hỏi thế giới, và trẻ phải ra ngoài để khám phá. Giáo viên có thể tận dụng những mong muốn tự nhiên của trẻ em là đi lang thang và khám phá , như một phương pháp chính trong giáo dục ở bậc mẫu giáo, tiểu học . (1)Thu thập mẫu vật . Bản chất của trẻ con là nắm bắt và nếu có thể, mang đi bất cứ thứ gì thu hút sự chú ý. Đó là bản năng thu thập. Đi dạo trên đống cỏ, đồng ruộng, vườn hoa : trẻ sẽ nhặt lá, hoa, quả, hạt, quả hạch, sỏi, và thực tế là bất cứ thứ gì lỏng lẻo hoặc có thể nhặt được. Ban đầu, chúng được nhặt một cách vô định, chỉ vì chúng thu hút sự chú ý. Phản ứng tự nhiên của trẻ đối với những thứ thu hút sự chú ý thường là giành lấy nó, chiếm hữu nó và mang nó theo. Thật dễ hiểu tại sao những khuynh hướng như vậy lại phát triển ở con người. Trong trạng thái hoang dã, việc này rất hữu ích đối với con người. Con người chắc hẳn luôn tìm kiếm những thứ có thể dùng làm thức ăn hoặc vũ khí. Họ phải làm điều này để sống. Trong các chuyến thám hiểm để tìm hiểu về thế giới, trẻ thu thập các mẫu vật địa chất, địa lý, thực vật và động vật học để có thể sử dụng chúng xây dựng một bảo tàng tại trường học, đại diện cho địa phương xung quanh. Trẻ em sẽ học được nhiều điều trong quá trình sưu tầm, và cũng sẽ học được nhiều điều từ các bộ sưu tập sau khi chúng được thực hiện. (2) Nghiên cứu môi trường tự nhiên . Giáo viên có thể tiếp tục đặt ra những yêu cầu lớn hơn đối với bản năng sưu tầm: thành lập các câu lạc bộ khoa học nhằm mục đích nghiên cứu môi trường tự nhiên. Nghiên cứu này nên bao gồm đá, đất, cây cối, lá cây, hoa, quả và mẫu gỗ của nhiều loại cây khác nhau. Chim chóc và côn trùng cũng có thể được nghiên cứu và thu thập. Hoạt động của một câu lạc bộ như vậy sẽ có giá trị gấp đôi. -Việc nghiên cứu và thu thập giúp trẻ làm quen với môi trường tự nhiên của mình, và khi làm như vậy, tạo ra một không gian cho hoạt động của nhiều khía cạnh trong bản chất của trẻ. -Khi trẻ ra ngoài trời có cơ hội khám phá mọi ngóc ngách của môi trường tự nhiên. -Việc thu thập thường có thể được thực hiện theo cách hoạt động theo nhóm. -Câu lạc bộ có thể tổ chức các buổi họp để trưng bày và nghiên cứu mẫu vật (3)Lưu giữ tại thư viện trường học. Các mẫu vật sau khi thu thập và nghiên cứu sẽ được kiểm tra và xác định tính đúng đắn ( về tên gọi, bản chất vật lý, hóa học, sinh học ) bởi giáo viên, Nó có thể là đại diện cho bộ sưu tập của một địa phương nơi thu thập mẫu về lĩnh vực: Thực vật học, Động vật và côn trùng, Vật lý học, cũng như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Điều này mang tính giáo dục ngay từ khi xây dựng .Khi được xây dựng, nó sẽ có giá trị to lớn đối với trường học, không riêngvới trẻ em mà còn đối với tất cả mọi người. Trong thư viện lưu giữ này này, có thể có cả những loài có giá trị kinh tế, chim chóc, và cả mẫu vật của các loài động vật hoang dã trong khu vực. Nếu khơi gợi đúng nhu cầu tự nhiên của trẻ em, bản năng này sẽ sớm được phát huy để tạo nên một bộ sưu tập vô cùng giá trị. Thư viện trường học, nơi trưng bày những mẫu vật này, sẽ là nơi lý tưởng để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Cũng cần có các mẫu vật thể hiện sự phát triển công nghiệp, các giai đoạn sản xuất nguyên liệu thô, các mẫu vật có giá trị lịch sử địa phương, tranh ảnh, tài liệu, sách vở. Tất cả nên được xây dựng sao cho phụ huynh có thể đến thăm thường xuyên như trẻ em. Trường học nên là nơi giáo dục toàn thể cộng đồng, là phòng thí nghiệm, thư viện, câu lạc bộ tranh luận, phòng trưng bày nghệ thuật... cho toàn thể cộng đồng.

  • VÙNG QUÊ YÊN BÌNH

    Một con đường không rộng lắm dẫn vào thôn xóm. Đầu đường là ngã ba với một nhà máy xay xát gạo có từ thời bao cấp của thập niên 1980. Gần bên là cửa hàng tạp hóa. Tất cả đêu được xây thấp lè tè, người nào cao phải cuối đầu khi đi qua cửa chính. Ngày trước, người dân làm gì cũng rất tiết kiệm, xây nhà sẽ phải tính toán đến vật liệu xây dựng. Chỉ cần vừa đủ. Nhà máy xay gạo có diện tích vừa đủ đặt máy xay, một khoảng trống để có chỗ cho vài người vận hành, chỗ đặt bao lúa gạo, bao cám, bao trấu...Tường nhà để thô không cần sơn phết. Bao nhiêu năm trôi qua, nhà máy và cửa hàng tạp hóa vẫn vậy. Con kênh nhỏ dọc theo đường làng dẫn nước vào ruộng lúa hai bên đường. Dòng nước trong lững lờ chảy, như chỉ để hoàn thành nhiệm vụ, không mang theo sự vội vã hay cạnh tranh nào. Đứng trên bờ có thể thấy mấy con cá con con tung tăng bơi xuôi theo dòng nước. Thời gian và không gian như dừng lại nơi đây. Những đổi thay của xã hội ngoài kia, những bước tiến dài của khoa học kỹ thuật dường như không liên quan đến nơi này. Một vùng đất đã nuôi dưỡng người dân qua bao nhiêu đời nối tiếp nhau, giao cho họ nhiệm vụ, dẫn dắt suy nghĩ của họ để họ có thể đối mặt với những khó khăn, trở nên mạnh mẽ hơn. Đất đai, cây cỏ nơi đây, quang cảnh xung quanh thấm vào xương, vào mô, vào tâm trí và tâm hồn họ. Trên cánh đồng ruộng lúa trải dài lộng gió, cuộc sống người nông dân gặp nhiều gian khổ. Vào những ngày rảnh rỗi, khi việc trông coi đàn trâu bò đang gặm cỏ mang lại cho họ thời gian rảnh rỗi để chiêm nghiệm lại cuộc sống. Có một sự thật đơn giản nhưng phi thường nào đó. Con người đã quá nhanh và gấp gáp về cách họ chinh phục thiên nhiên. Thiên nhiên luôn im lặng. Nhiều ẩn số trong phương trình phát triển văn hóa của họ đã bị bỏ qua. Sự thay đổi về thể chất và tinh thần từ nhiều nguyên nhân khác nhau làm ảnh hưởng đến nét đẹp cao quý của người dân gốc gác nơi đây. Sau tất cả, họ nhận ra một giá trị cốt lõi của nền văn hóa thôn xóm sẽ trường tồn với thời gian. Ánh nắng buổi sớm mai lấp lánh như kim cương từ những giọt sương đọng lại trên lá cây tạo nên một sắc cầu vồng rực rỡ. Tiếng chó sủa trong xóm, tiếng nô đùa của trẻ con từ ngôi trường tiểu học dẫn dắt họ dần hòa nhập trở lại với quá khứ, suy ngẫm về những ký ức trong quá khứ. Mỗi người trong làng là một viên đá giữ cho miền ký ức tươi đẹp nét quyến rũ mà tạo hóa đã mang đến cho tuổi thơ của họ, hấp dẫn trí tưởng tượng của họ. Trong khung cảnh như vậy, những mảng màu sống động hiện lên trong tâm trí mỗi người về một thời đã qua gắn liền cuộc đời họ với nơi này. Chỉ cần một chút âm nhạc tĩnh lặng là đủ để tô điểm thêm cho sự thú vị và phẩm giá của một vùng làng quê yên bình.

  • NỐT NHẠC ĐỒNG QUÊ

    Mùa thu là thời điểm cuộc sống trở nên quyến rũ nhất của một ngôi nhà giữa vùng nông thôn được bao quanh bởi cánh đồng lúa chín vàng. Đã có thời những người nông dân ở những ngôi làng miền đồng quê sống bằng nông sản của ruộng vườn: ngũ cốc và lúa gạo tự gieo trồng, cá và trứng, gia cầm- gia súc tự chăn nuôi cung cấp cho những nhu cầu đơn giản của họ quanh năm. Với cuốn sách của thiên nhiên trải rộng trước mắt, cuộc sống của người nông dân nghèo, dù thời thế khó khăn, vẫn mang dáng dấp của sự giản dị tao nhã. Có lẽ xe đạp là một nhu cầu ở vùng nông thôn. Sẽ là một trải nghiệm nhiều thú vị khi ngồi trên chiếc xe đạp lướt xuống dốc, với con đường êm ái và theo chiều thuận gió. Khi tháng chín đang đến gần và ngày ngắn dần, tiếng rô-rô vui vẻ của máy gặt-đập lúa vang lên suốt cả ngày quanh xóm làng. Sự tiến hóa của máy gặt - đập lúa thật kỳ diệu! Phương pháp của các bậc nông dân tiền bối chúng ta khá thô sơ. Trong quãng thời gian khó khăn đó, người đàn ông nông dân với cái đầu vượt trội hơn hẳn những người hàng xóm xuất hiện. Ông chứng minh năng lực và lòng quyết tâm mang lại lợi ích cho mọi người. Nhiều gia đình nông dân thường có những bữa tiệc nhỏ đãi khách sau vụ mùa thu hoạch. Đó là những niềm vui nhất định. Khuôn mặt hiền lành chân chất của họ thật phúc hậu và cũng hài hước làm sao! Làn gió đầu thu trên đồng cỏ tươi mát và bổ dưỡng tựa như rượu sâm panh lâu đời nhất. Những cây khế hoa tím mọc nơi hàng rào trước cửa nhà, những cây bông hoa chuông, cây cúc vàng rực, vạn thọ đỏ thắm... làm bừng sáng cảnh quan sân vườn. Khối màu sắc rực rỡ chen giữa những mảng xanh của lá cây củ cải, xà lách...như vậy cho đến cuối tháng 11, nếu thời tiết ôn hòa. Hàng rào và cây cối phô trương vẻ lộng lẫy, dấu hiệu một mùa xuân hạnh phúc sắp đến. Còn gì đẹp hơn thế! Trên cây mận nơi góc sân, lủng lẳng những quả màu hồng đỏ mọng nước. Vị của chúng chua chua là món quà của mấy loài chim ăn trái cây và của cả tụi trẻ con ham vui nữa. Đôi khi đi bộ qua cánh đồng, tôi tự hỏi: Liệu những bông hoa dại tuyệt đẹp này, những lùm cây và ruộng lúa xanh tươi này, những chú chim với giai điệu vô giá của chúng, những mảng ánh sáng kỳ diệu, khó tả này, vốn là một phần của cảnh quan nông thôn thường nhật, có thể bị lãng quên hay không? Thật lãng phí một kho tàng phong phú của thiên nhiên với cảnh tượng được trưng bày trang trọng nếu không có khán giả chiêm ngưỡng!

Subscribe here to get my latest posts

© 2035 by The Book Lover. Powered and secured by Wix

  • Facebook
  • Twitter
bottom of page